Giải thưởng – học bổng toàn diện nhất cho cán bộ, SV ngành Y

By
15/11/2013 - 11:35

T – Ông Nguyễn Thành Trung giám đốc Bệnh viện ĐH Y dược Thái Nguyên, phó hiệu trưởng ĐH Y dược Thái Nguyên cho biết: ở vị trí chủ tịch hội đồng giám khảo, tôi đánh giá cao sáng tạo của báo Tuổi Trẻ. Giải thưởng- học bổng này đã nghĩ đến cả hiện tại, quá khứ và tương lai của ngành Y.
BS Đặng Đăng Lý (Thái Nguyên), sắp về hưu, từng làm việc không lương vẫn hết lòng với công việc cũng nhận giải, đó là quá khứ. Hiện tại có những bác sĩ, y sĩ đoạt giải mới công tác trong ngành 5-7 năm nhưng đã có những sáng tạo ý nghĩa trong việc chăm sóc sức khỏe bà con vùng sâu, vùng xa.

* Ông đánh giá thế nào về những bác sĩ, y sỹ và SV đã được xét chọn trao học bổng, giải thưởng?

– Ngay ở trường tôi, SV rất phấn khởi vì đây là học bổng xứng đáng là… học bổng dành cho những SV có học lực khá trở lên, hoàn cảnh khó khăn. Xét chọn rất kỹ. Học bổng cũng dành cho cả những học viên chuyên tu, những người rất ít khi có học bổng. Tôi tin các bạn SV, học viên này sẽ gắn bó với vùng sâu, vùng xa.

Tôi nghĩ ít có báo nào làm sâu một chương trình như thế. Đó là khi chọn người đoạt giải, có nơi thường “du di”, nhưng ở đây báo đã phản hồi cho chúng tôi những trường hợp chưa thật sự xứng đáng và hội đồng xét chọn đã phải xem xét lại.

LAN ANH thực hiện

10 cán bộ y tế nhận giải thưởng Đặng Thùy Trâm 2009

Ngày 11-5, hội đồng giám khảo giải thưởng – học bổng Đặng Thùy Trâm có quyết định trao giải thưởng năm 2009 cho 10 cán bộ y tế đang sống và làm việc tại các xã vùng sâu, vùng xa thuộc sáu tỉnh Việt Bắc và Bắc Giang:

1- BS Đỗ Quốc Anh, 1970, trạm trưởng trạm y tế xã Xuân Lương, Yên Thế, Bắc Giang, công tác tại xã Xuân Lương từ năm 2000 khi trạm còn là nhà tạm tuềnh toàng. Đến nay, số bà con khám chữa bệnh tại trạm đã tăng gấp ba so với trước.

2- Hoàng Thị Tươi, 1963, trạm trưởng trạm y tế xã Tuấn Đạo, Sơn Động, Bắc Giang, tình nguyện lên làm việc tại Sơn Động từ 1987 khi người dân nơi đây hầu như chưa biết ba công trình vệ sinh. Nay tỉ lệ phụ nữ mang thai đi khám thai, trẻ được tiêm chủng đầy đủ rất cao.

3- Đinh Văn Thức, 1971, trạm trưởng trạm y tế xã Minh Thanh, Nguyên Bình, Cao Bằng, tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho HS mẫu giáo, xây dựng vườn thuốc nam, tiêm chủng cho 100% trẻ em trong độ tuổi.

4- BS Ngân Hoàng Hưng, 1970, trạm trưởng trạm y tế xã Ca Thành, huyện Nguyên Bình, Cao Bằng, qua tuyên truyền, vận động, nhiều năm qua xã Ca Thành không xảy ra dịch bệnh, giảm tỉ lệ mắc sốt rét và các bệnh truyền nhiễm khác.

5- BS Triệu Văn Dân, 1967, trạm y tế xã Khánh Long, huyện Tràng Định, Lạng Sơn, đưa dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản về tận nơi bà con sinh sống, làm đường để bà con đến trạm y tế được dễ dàng.

6- BS Đặng Đăng Lý, 1949, trạm trưởng trạm y tế Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên, qua 41 năm công tác tại trạm y tế xã Hợp Tiến đã vận động bà con đóng góp vật liệu xây dựng trạm y tế năm gian. Là trạm y tế dân lập nên lúc có chế độ, lúc không, nay trạm đã có phòng khám đông, tây y, thiết bị y tế tương đối đầy đủ. Năm 2000, bác sĩ Lý được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.

7- Tô Thị Việt Đức, 1958, trạm trưởng trạm y tế xã Bình Yên, Sơn Dương, Tuyên Quang, công tác tại một trong sáu xã khó khăn nhất huyện, y sĩ Đức đã tới tận nhà, tận bản hướng dẫn bà con chăm sóc sức khỏe. Trạm Bình Yên cũng là một trong những trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế xã.

8- Y sĩ Nguyễn Thị Mùi, 1969, trạm trưởng trạm y tế xã Tân Lập, huyện Bắc Quang, Hà Giang, trình diễn thực hành dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai, đang cho con bú và trẻ dưới 2 tuổi, kết quả tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 24,1% năm 2007 xuống 19,3% năm 2008. Vận động người dân phòng tránh thai, bỏ các tệ nạn mê tín dị đoan.

9- Y sĩ Nguyễn Thị Mến, 1958, trạm y tế xã Tiên Nguyên, Quang Bình, Hà Giang, trạm y tế cách huyện lỵ 107km. 31 năm làm việc, chuyển ba cơ quan, nơi mới khó khăn hơn nơi cũ nhưng y sĩ Mến đã được bà con tin, làm theo các chương trình chăm sóc sức khỏe, bài trừ mê tín dị đoan…

10- Y sĩ Nông Quang Nghiêm, 1968, trạm trưởng trạm y tế xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, Hà Giang, thường xuyên đi bộ quãng đường 38km ra huyện gùi thuốc về chữa bệnh, đến tận nhà người bệnh khám bệnh, tổ chức khám và điều trị hiệu quả cho nhiều người bệnh.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu đã có quyết định tặng bằng khen của bộ trưởng Bộ Y tế và tặng phẩm cho 10 cán bộ y tế được nhận giải thưởng Đặng Thùy Trâm 2009, do có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Học bổng đặc biệt

Trong danh sách trao giải thưởng – học bổng Đặng Thùy Trâm khu vực Việt Bắc, có một học bổng đặc biệt trị giá 10.000.000 đồng dành riêng cho y tá thôn bản Ma Văn Dư.
Ma Văn Dư (phải) đang đi học vẫn tranh thủ cuối tuần về theo dõi sức khỏe bà con bản mình – Ảnh: Thế Kiệt – Hồng Đức

Trong điều kiện xét học bổng của chương trình này, Ma Văn Dư không thuộc đối tượng cán bộ đi học (vì anh không học đại học) và cũng không thuộc đối tượng học sinh đi học (vì anh đã là “cán bộ”). Hiện Ma Văn Dư là y tá bản Lự, xã Yên Mỹ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn. Anh đang theo học lớp y tá sơ học tại Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng cán bộ y tế Bắc Cạn.

Vượt qua vô vàn khó khăn dù một chân bị liệt, y tá Ma Văn Dư vẫn cặm cụi với công việc của một y tá thôn bản với mức phụ cấp 40.000 đồng/tháng. Thật thú vị khi chàng y tá này còn là một cán bộ Đoàn năng nổ, một “cây” văn nghệ của bản Lự với nhiều chương trình tự dàn dựng nhằm cổ động thanh niên tránh xa tệ nạn.

HOÀNG THANH

“Về với làng phong của mình”

TT – “Bà nhớ cháu không?”. “Sao không nhớ. Hồi mẹ mày sinh mày ở làng phong Đồng Lệnh này, tao bế mày suốt…” – bà cụ Trần Thị Chinh nói rõ từng tiếng với Chẩu Văn Vương, y sĩ trạm y tế xã Tân Thành, huyện Hàm Yên (Tuyên Quang)…

y_si_vuong

Y sĩ Vương thăm bệnh bà cụ Chinh trong một lần nghỉ học về thăm làng. Mệt mỏi nhưng Vương vẫn nở nụ cười để bà yên lòng – Ảnh: Tấn Đức

Bà cụ đã 98 tuổi, dân tộc Cao Lan, vốn là một bệnh nhân phong của làng phong Đồng Lệnh (xã Tân Thành) nhìn vẻ ngoài như một cây khô sắp đổ. Lưng còng, tay chân đã rụng mấy ngón do di chứng bệnh phong, nhưng cụ vẫn có thể xỏ kim may vá quần áo, tai vẫn thính. Hơn 35 năm sống ở làng phong này cùng với bố mẹ Vương, cụ hiểu gia đình Vương hơn cả Vương.

Bà nhớ mồn một: “Bố thằng Vương quê Chiêm Hóa, mẹ nó nhà bên Phú Bình. Năm 1972, mở ra Trại phong Đồng Lệnh này thì hai năm sau bố mẹ nó cũng nhập cục vô đây. Lấy chồng chưa đầy năm thì mẹ thằng Vương sinh nó ở cái vách núi đằng kia. Khổ lắm, nhiều khi đói còn không có nước uống…”.

Lúc đó bệnh phong còn khiến nhiều người kinh sợ, xa lánh. Trường cấp I và II xã Tân Thành nằm cách làng phong chỉ chừng 1km, nhưng trẻ con làng phong hầu như không đứa nào biết chữ. Nhiều phụ huynh phải đóng bàn ghế riêng mang đến lớp cho con em ngồi biệt lập ở góc phòng, nhưng trước sự xa lánh chung lúc ấy, hầu như đứa nào cũng phải bỏ học.

Câu nói của bà cụ Chinh đã dậy lên trong lòng người cán bộ y tế trẻ này cả một ký ức tuổi thơ khổ sở trăm điều: “Nghe nói khi tôi chưa thôi bú, bố mẹ đã gửi tôi về quê nội ở Phúc Sơn (huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang) để nhờ người bác cưu mang, được đi học. Học hết lớp 7, tôi lại phải quay về Đồng Lệnh để thay bố mẹ nuôi hai em…”.
Trại phong nằm lọt thỏm giữa một vùng núi đá, đất canh tác chỉ có vài chục sào, mấy tháng mùa mưa chỉ trồng được duy nhất hai loại cây sắn (khoai mì) và mía. Sau năm 1978 trại phong giải thể. Nhiều bệnh nhân phiêu dạt khắp nơi. Chừng dăm chục hộ, trong đó có gia đình Vương, không biết đi đâu cứ phải bám trụ. Thiếu thuốc đặc trị, bệnh bố mẹ Vương tiến triển nặng: chân tay co quắp, cụt ngủn lại còn thường xuyên bị loét ổ gà… Mọi lo toan cho gia đình năm miệng ăn dồn lên đôi vai gầy guộc của Vương và người em trai hơn mười tuổi.

“Lúc ấy, ban ngày tôi lên núi vỡ đất khai hoang, lên rừng hái măng, hái nấm về làm cái ăn cho cả nhà. Đêm về, dù thèm ngủ đến rũ người nhưng tôi cố chong đôi mắt tuổi mới lớn để xoa bóp tay chân bố mẹ giảm đi phần nào những cơn đau nhức buốt xương buốt tủy…”.

Đó là một thời khốn khó. Người làng phong ai cũng nghĩ cái thằng Vương rồi cũng như bao đứa trẻ khác trong làng thôi: gắn đời mình vĩnh viễn với núi đá, cây rừng.

“Tôi không tin mình sẽ mãi như thế”

“Tôi không tin mình sẽ mãi như thế. Học xong phổ thông, tôi nằn nì, thuyết phục bằng được các cán bộ y tế xã cho đi học lớp y tá thôn bản để về chăm cho bố mẹ cùng hơn 50 bệnh nhân phong vẫn còn ở lại tại khu nhà tập thể của làng phong”.

Tháng 5-1995, sau khi học tập các kỹ năng cơ bản về chăm sóc bệnh nhân phong, Vương trở lại gắn mình với trạm y tế thôn Đồng Lệnh.

“Theo tiếng Tày, Đồng Lệnh có nghĩa là nơi khô, ít nước. Tôi đã lớn lên từ đó và sẽ trở về lại làng mình để cố gắng làm cho quê mình không còn ai đau khổ vì bệnh, không còn trẻ em thất học, không còn là vùng đất khô cằn nữa” – Chẩu Văn Vương (sinh năm 1975, dân tộc Tày, học viên lớp chuyên tu 39B, Trường ĐH Y dược Thái Nguyên) bặm môi bảo thế với đôi mắt thật buồn nhưng đầy nghị lực.

“Suốt ba năm khi mới về, có thể nói hầu như không đêm nào tôi ngủ được trọn giấc. Đầu hôm đi thăm vợ chồng ông Bẩu, bà Ngọc ở phòng đầu dãy nhà tập thể xem ông bà đã bớt đau chân chưa. Vợ chồng ông không con cái, mà hai người gộp lại chỉ có ba cái chân. Rồi qua phòng kế bên nhắc nhở bà Đâu nhớ uống thuốc đúng giờ. Thương bà lắm, vừa bị rụng mất một lóng tay, lại thêm chứng liệt nửa người bên trái…”.

Bệnh nhân phong còn ở lại toàn những người cao tuổi. Những đêm mùa đông giá rét, cơn đau hành hạ khiến nhiều cụ không kìm được.

“Lúc ấy nửa đêm, những tiếng kêu thét đau đớn của bà Cám, bà Phiên, bà Biếc, bà Hon… đã nhói hết cả tim tôi. Tôi ngỡ như tiếng bố mẹ mình, bật dậy mang thuốc an thần xuống cho uống và an ủi động viên đến lúc các cụ bình tâm mới về nghỉ. Dù đã cố hết sức nhưng lúc nào tôi cũng cảm thấy như bất lực trước những cơn đau của bố và nhiều bệnh nhân khác. Điều đó đã thôi thúc tôi luôn muốn học tập nâng cao hiểu biết chuyên môn để chăm sóc bố mẹ, bà con mình tốt hơn nữa”.

Để đi đến cùng ước mơ đó, Vương vừa làm vừa tranh thủ thời gian rảnh rỗi học bổ túc THPT ở trung tâm xã. Thế là ngay kỳ thi đại học đầu tiên, Vương thừa đến 5 điểm để đường hoàng bước chân vào giảng đường Trường ĐH Y dược Thái Nguyên.

“Thật ra vào đại học rồi mà lòng vẫn cứ đau đáu với làng phong. Hôm nào được nghỉ, tôi bậm môi chạy xe máy một mạch 150km từ TP Thái Nguyên về làng phong thăm mẹ (bố tôi đã mất), bà con bệnh nhân… Mệt nhưng lòng mình nhẹ nhàng, thanh thản…”.

Không dừng lại ở đó, có hôm Vương lặng lẽ xuôi về Hà Nội, tìm đến các tổ chức từ thiện, mạnh thường quân để quyên góp ít thuốc, ít quần áo rồi mang về phân phát lại cho bà con bệnh nhân làng mình.

TẤN ĐỨC
Theo TTO

Tin khác

Sản phẩm mới

Claminat® 625mg

Amoxicillin là kháng sinh bán tổng hợp thuộc nhóm β - lactam có phổ diệt...

Video nổi bật